PHẬT & SỰ CỨU ĐỘ CỦA PHẬT

Lượt xem : 118

Có một sự hiểu lầm rất lớn làm cho tất cả những công năng hành trì của người tu Phật đi một con đường khác so với Chánh Pháp của Đạo Phật.

Đó là sự hiểu lầm về PHẬT. Thật vậy, từ xưa đến nay mọi người đều quen hiểu rằng PHẬT là Thần Linh, đầy uy quyền, “có thể cứu độ Tam Thiên Đại Thiên thế giới”; tin luôn các Đức Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, các Bồ Tát như Quán Thế Âm, Địa Tạng Vương, Dược Sư Lưu Ly Quang; tin luôn những nước Phật như Tây Phương Cực Lạc, Đông Phương Tịnh Quốc, là những danh xưng do Đức Thích Ca đặt ra trong quá trình giảng dạy. Vì thế, mỗi khi có việc là sắm hoa quả, vàng hương đến Chùa để cúng kiến, để cầu xin tai qua nạn khỏi, bớt rủi thêm may, thăng quan, tiến chức, gia đạo an vui. Khi có người thân qua đời thì nhờ Thầy tụng Cầu Siêu, đưa về Tây Phương Cực Lạc, mà không bao giờ thắc mắc xem liệu Phật có làm được những việc mà ta mong mỏi hay không? Mọi người cứ theo hình ảnh mô tả trong Kinh mà tạc tượng các vị để hương khói tôn thờ, cầu xin, trong khi đó, nếu chịu khó đọc Chính Kinh thì ta sẽ thấy, Phật không phải là một vị Thần Linh để cho tín đồ tôn thờ, cầu xin phù hộ độ trì, mà chỉ là kết quả Giải Thoát không chỉ riêng Đức Thích Ca và Chư Vị Giác Ngộ thành công được, mà mọi người cần thành tựu, cần đạt tới. Thế nhưng, dù con người thời này học cao, hiểu rộng rất nhiều, nhưng ít ai chịu để thì giờ tìm hiểu xem những điều mình đang thực hành có đúng là Đạo Phật theo Chánh Pháp hay không? Phật là gì? Quyền năng như thế nào? Có cứu độ cho mọi người được không? Cứu Độ như thế nào? Tam Thiên thế giới mà Phật cứu độ đó ở cõi nào? Do vậy, họ cũng không hiểu rằng những gì mình đang hành trì đã lạc sang Thần Quyền, mê tín, làm mất đi ý nghĩa thật sự của Đạo Phật mà Đức Thích Ca đã lập ra.
Do cứ “xưa bày, nay làm” mà rất nhiều người, kể cả Tu Sĩ cũng không biết rằng nghĩa của Đạo Phật, hiểu cho đúng thì chỉ là CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT, không phải là một Tôn Giáo dạy thờ đấng sáng lập là Đức Thích Ca. Vậy mà hiện nay Đạo Phật của Ngài, theo thời gian, đã biến tướng thành một Tôn Giáo, tôn thờ Ngài giống y như những Tôn Giáo Thần Quyền khác: Người Phật tử tin rằng nếu siêng năng cầu xin Phật thì lúc sống được phù hộ, lúc chết mà nhờ Thầy Tụng Kinh thì sẽ được về Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà, trong khi Đức Thích Ca đã Thọ ký: “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành” và mong muốn mọi người sẽ được Giải Thoát như Ngài.
Lỗi đó không chỉ ở những người rao giảng Đạo Phật, một phần cũng do Phật Tử, vì khoán trắng việc đọc và giảng kinh cho những Tu Sĩ, trong khi Chính Kinh lúc nào cũng thận trọng nhắc nhở VĂN-TƯ-TU, tức là người đọc kinh hay nghe giảng thì nên Tư Duy để tìm cho rõ nghĩa rồi mới hành trì theo đó, vì Kinh thì qua thời gian có thể bị “tam sao thất bổn”, không biết đâu mà kiểm chứng. Các vị tu hành về sau, chứng đắc hay không, thấy ít nhiều gì đó cũng luận giảng theo cái hiểu của mình, đôi khi không còn đúng ý của Đạo Phật chân chính nữa. Do đó, muốn TIN, HÀNH theo đúng Chánh Pháp mà Đức Thích Ca đã khai mở, người Phật Tử sáng suốt cần tự mình tìm hiểu.
Nên tìm ở đâu thì chúng ta đã có những bộ Kinh, gọi là Chính Kinh, do các Tổ có nhiệm vụ chính thức được Đức Thích Ca giao phó để nối truyền Đạo Phật ghi lại. Các Ngài là người Chứng Đắc, đã nắm vững Đạo Phật, mới có thể diễn giải Đạo Phật đúng theo ý nghĩa của nó, vì thời xưa, do ngôn ngữ chưa phong phú, sự hiểu biết của con người còn giới hạn, nên Đức Thích Ca đã dùng rất nhiều phương tiện có thể gây hiểu lầm. Đọc trong Kinh Lăng Nghiêm thì chúng ta thấy: Để giải thích cái Tâm thôi, mà Phật phải giảng đến 7 lần thì Ngài A Nan mới hiểu ra. Mà cái Tâm là GỐC của công việc tu hành. Tu Phật chính là Tu Tâm, cho nên nó quan trọng đến nỗi Ngũ Tổ dạy: “Nếu không thấy Tâm thì học Pháp vô ích”. Tổ Đạt Ma cũng dạy: “Đạt đạo Tâm là gốc”.
Nhưng lý do gì mà muốn Tu Phật phải Tu Tâm trong khi thời này chúng ta không thấy đề cập đến nữa mà đa phần nặng về hình thức, lấy Tụng Kinh, Niệm Phật làm công năng chính cho việc tu hành? Vì thế, muốn biết thế nào là Đạo Phật chân truyền, bắt buộc chúng ta quay về với lý do Phát Tâm, công việc hành trì, kết quả mà Đức Thích Ca đã đạt được, để kiểm chứng xem những gì mà chúng ta xưa nay vẫn tin tưởng có hoàn toàn đúng hay không? Phật có quyền năng “cứu độ” cho bá tánh không? Mọi người có thể về Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà hay không?
Nếu chịu khó mở lại con đường tu hành của Đức Thích Ca, ta sẽ thấy sở dĩ Ngài Phát Tâm Xuất Gia là vì trông thấy cảnh Khổ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử đè nặng lên kiếp sống con người. Sau Sáu Năm tu sai với Sáu vị Thầy, cuối cùng Ngài đạt được mục đích chỉ bằng 49 ngày đêm Ngồi Thiền Định.
Con đường tu hành của Đức Thích Ca cho ta thấy mấy điều:
1. Mục đích tu hành là để Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử.
2. Phương tiện là Thiền Định.
3. Kết quả gọi là “Đắc Đạo”, là tìm ra được nguyên nhân của Sinh Tử Luân hồi cũng như cách thức để hóa giải. Đó mới là mục đích chính của việc tu hành theo Đạo Phật.
Kiểm điểm lại con đường tu hành, thành Đạo của Đức Thích Ca, Pháp mà Ngài “Đắc” được khi Thiền Định, là tìm ra con đường THOÁT KHỔ, THOÁT SINH TỬ. Suốt quá trình tu hành của Ngài, ta thấy không có môn nào để từ một con người bình thường biến thành Thần Linh có khả năng cứu độ cho ai. Sau đó, Ngài để hết thời gian còn tại thế để truyền lại cho những ai muốn được như Ngài thì phải tự mình thực hành. Chính vì vậy mà Đạo Phật gọi là Đạo Tự Độ, Phật không có thể cứu giúp cho ai. Bằng chứng là chính con ruột của Ngài là La Hầu La, em Ngài là Đức A Nan vẫn phải tự tu.
Có lẽ mọi người sẽ thắc mắc, vì rõ ràng trong Kinh viết là Phật có thể “Cứu Độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”. Như vậy không lẽ Kinh viết sai như những người bên Tiểu Thừa bắt bẻ là “Kinh Đại Thừa Ngụy Tạo, không phải lời của Phật thuyết”. Họ còn cho rằng Đại Thừa dựng ra vô số Phật, Bồ Tát để mọi người tôn thờ! Điều đó chúng ta sẽ hiểu như thế nào?
Ai cũng biết Phật không muốn là ngôi vị độc tôn để mọi người tôn thờ, mà đã Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành” có nghĩa là tất cả mọi người đều có thể Thành Phật giống như Đức Thích Ca và Chư Vị Giác Ngộ đã thành. Muốn Thành Phật thì phải qua giai đoạn Chứng Đắc. Mở lại lịch sử Truyền Thừa, chúng ta sẽ thấy người đầu tiên Chứng Đắc, được Đức Thích Ca Truyền Y Bát chính là Đức Ca Diếp. Không phải vì tuổi già theo hầu Phật lâu năm mà Ngài Ca Diếp được Truyền Y Bát để giao cho thống lãnh Tăng Đoàn và giữ gìn, phổ biến Giáo Pháp của Đạo Phật. Sự việc được lý giải hết sức rõ ràng: Trong một lần trước đại chúng, Đức Thích Ca cầm cành Sen đưa lên. Trong khi Đại Chúng ngơ ngác, không hiểu ý Phật muốn nói gì thì Ngài Ca Diếp rạng mặt mỉm cười. Lý do chỉ có nụ cười mà Ngài Ca Diếp được Truyền Y Bát làm cho những thế hệ về sau luận bàn đủ kiểu. Kẻ cho là Ngài “cười ngây ngô”. Người cho là Ngài “cười đúng lúc”. Do không hiểu ý nghĩa của Nụ Cười đó nên họ gán như thế không khác nào bôi bác Đạo Phật.
Thật vậy, chúng ta nghĩ sao khi một Giáo Pháp đặt Trí Tuệ lên hàng đầu: “Tam thế Chư Phật Y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc Tam Miệu Tam Bồ Đề”, có nghĩa là Ba Đời Chư Phật (Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai) đều nương Trí Huệ qua bờ bên kia mà đắc Đạo Giải Thoát. Như vậy làm gì có việc “cười ngô nghê” hay “cười đúng lúc” mà được Truyền Y Bát? Nụ Cười của Ngài Ca Diếp khi Đức Phật đưa Cành Sen lên là vì Ngài hiểu rõ Ý Phật muốn diễn tả qua Cành Sen, là do Ngài thấu hiểu Phật Pháp, hiểu rằng dù Đức Phật dùng rất nhiều Phương Tiện. Nói Nước Phật, nói Chư Phật, nói Bồ Tát, nói Tứ Quả Thánh, nói Tây Phương, Đông Phương v.v… chỉ là để dẫn dụ con người vì ham làm Phật, Bồ Tát, làm Thánh, đạt những Quả Vị nọ kia mà tin và hành theo. Nhưng kết quả mà người tu đạt được chỉ là sự KHÔNG Ô NHIỄM bởi Khổ đau của cảnh đời đầy đau khổ, như Hoa Sen được sinh ra từ bùn mà vẫn tinh khiết, không bị nhiễm mùi bùn. Mục đích tu hành theo Đạo Phật là để không còn bị cảnh đời, bị các Pháp hành hạ. Người tu sẽ nổi giữa Bể Khổ, vươn lên như Hoa Sen vươn lên khỏi bùn. Nhưng do bản tính con người vốn không dễ bỏ những gì họ mê đắm từ bao đời, nếu không thấy họ sẽ được cái khác to lớn, vĩ đại hơn, tốt đẹp hơn thì dễ gì họ buông bỏ? Chính vì vậy mà Quả Vị, mà Nước Phật được Phật bày ra, nhưng kết quả chỉ là sự Giải Thoát khỏi phiền não trong cuộc sống mà thôi. Đó cũng là lý do mà Đạo Phật dùng Hoa Sen làm biểu tượng. Sự “Cứu Độ” của Đức Phật, của Đạo Phật đối với con người chỉ là Giáo Pháp. Người nương Giáo Pháp của Đạo Phật mà hành theo thì sẽ có được sự Giải Thoát như Phật đã đạt được.
Việc “Cứu Độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới” được hiểu như sau: Trong mỗi con người từ vô thỉ đến nay, nếu không tu hành thì lúc nào Tham, Sân, Si cũng lừng lẫy, chỉ chờ cơ hội, gặp pháp hợp với nó là nó bùng lên. Cách đây mấy ngàn năm mà Đức Thích Ca đã đọc được tư tưởng con người. Thấy nó sinh ra trùng trùng, điệp điệp. Cho tới gần đây thì những nhà nghiên cứu tư tưởng con người của nước Úc mới cho biết, mỗi ngày mỗi người sinh ra khoảng 50.000 tư tưởng. Như vậy, trong mỗi kiếp, 3 chủng loại đó trong mỗi người sản sinh ra nhiều vô số kể, đông như công dân trong một thế giới, nên Đức Phật gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Người tu Phật chính là để “Độ” cho những Chúng Sinh này của mình. Độ hết chúng, không còn bị chúng quấy rầy nữa thì gọi là Giải Thoát. Điều này tương ứng với câu Kinh Kim Cang “Ta đã diệt độ vô lượng vô số Chúng Sanh”. Dù gọi là Chúng Sanh, nhưng không phải là một con người hay một sinh vật có thật, chỉ là giả gọi mà thôi. Vì thế, Kinh viết tiếp “Nhưng thật ra không có Chúng Sanh nào bị diệt độ cả”, vì đó chỉ là những tư tưởng còn khuynh hướng xấu của người tu mà thôi.
Nhiều Tu Sĩ thường vẫn nghĩ rằng Chúng Sanh là bá tánh bên ngoài, nên tìm cách giảng pháp, lôi kéo để họ Quy Y, cho rằng như thế là Độ Sinh. Hoặc có vị bày cho đệ tử mua hàng tấn cá mang Phóng Sinh, cho đó là Độ Sinh. Những việc làm này chỉ là tích phước báo, không liên quan gì đến việc tu hành, vì không đưa người làm đến kết quả Giải Thoát. Đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, ta thấy Lục Tổ dạy: “Chư Thiện Tri Thức. Chúng Sanh trong Tâm mình tức là: Lòng tà mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các Tâm này đều gọi chung là Chúng Sanh. Mỗi người phải dùng Tánh mình mà độ lấy mình mới gọi là thiệt độ”. Một số khác vì hiểu lầm nên diệt hết tư tưởng, cho đó là Độ Sinh. Vì thế, Chư Vị giác Ngộ về sau phải dùng từ “Điều phục” hay “Chuyển hóa”, tức là chỉ cải tạo, sửa đổi, cho nó “Cải tà, quy chánh”, “phản vọng, quy chân” rồi dùng lại, không có diệt hết tư tưởng để trở thành ngây ngô, vô cảm, bởi người tu Phật không phải tu hành để trở thành gỗ đá vô tri, mà được dặn dò sau khi hoàn thành sứ mạng của mình thì phải đền TỨ ÂN, nếu chúng ta dẹp hết mọi suy nghĩ, hành động, không tham gia với đời thì làm sao thực hiện được những điều đó? 32 Tướng Tốt của Phật cũng được hình thành bằng những việc làm tốt đẹp đối với Ông bà, Cha mẹ, Thầy, bạn, tha nhân, không phải là những hảo Tướng mà mọi người dùng vàng, bạc, gỗ quý, xi măng… đúc hay tạc ra để thờ như những người hiểu lầm văn tự vẫn làm từ xưa đến nay.
Thật ra, hành trình Tu Phật, Thành Phật chỉ làm một công việc là tìm nguyên nhân đã làm ra đau khổ, Sinh Tử Luân Hồi rồi hóa giải. Đức Thích Ca chỉ rõ: Cái làm ra Sinh Tử Luân Hồi là cái Tâm, trong đó có vô số tư tưởng, tốt có, xấu có. Chính những tư tưởng xấu gọi là Chúng Sanh, vì nó sẽ đưa đến việc tạo Nghiệp làm cho phải Sinh Tử Luân Hồi. Cho nên, tu hành tức là học cách để Chuyển Hóa những Chúng Sinh đó, giáo hóa chúng, cho chúng chuyển hướng sang tốt. Khi Cái Tâm không còn những tư tưởng đen tối, ác độc xâm chiếm mà trở nên trong sáng, thanh tịnh, thì gọi là nước Phật được thành lập. Gọi Tây Phương Cực Lạc, vì không còn phiền não, đau khổ, chỉ còn niềm vui. Tả cảnh Giới Phật đầy rẫy Bảy Món châu báu, nhưng không phải là vàng bạc, châu báu của trần gian. Châu Báu mà Phật tả, là nói về những thứ mà ta vẫn ôm giữ từ bao nhiêu đời. Do ôm giữ như người giữ của quý, không chịu rời xa, nên Phật ví như Châu Báu. Đó là Ba Nghiệp của Thân và Bốn Nghiệp của Khẩu. XẢ chúng đi thì gọi là “Cúng dường cho Phật”. Ngài đặt tên cho chủ trì của Nước Tây Phương Cực Lạc là A Di Đà. Sở dĩ hiệu là A Di Đà là vì “Hào quang soi suốt không ngăn ngại”, có nghĩa là nơi cái Tâm đã thành lập Tây Phương Cực Lạc trên, dưới, trong ngoài đều sáng suốt, thanh tịnh, không còn bị chướng ngại bởi một phần tử xấu xa, đen tối nào.
Để thành lập nước của Phật A Di Đà, ta thấy Kinh tả: “Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây đều bằng châu báu bao bọc giáp vòng, vì thế nước đó tên là Cực Lạc.
Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng Bảy chất báu, trong đó đầy rẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất.
Vàng, bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao. Trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não…”.
Xá Lợi Phất! Lại Đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ Tát chúng cũng đông như thế… Những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bậc Bất thối chuyển”.
Kinh viết rõ: “Những người vãng sanh trong đó đều là bậc Bồ Tát, Thinh Văn, Bất thối chuyển”, và “Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó”. Vậy thì ta nghĩ sao khi cả đời làm tội, gây nghiệp rồi lúc chết mời Sư tới tụng vài bài Kinh mà vong linh được đưa thẳng về Tây Phương Cực Lạc?
Chúng ta nên hiểu là Tây Phương Cực Lạc là phương tiện Phật dùng để diễn tả một cái Tâm chứa đầy Công Đức của việc Thí Xả Ba Nghiệp của Thân, Bốn Nghiệp của Khẩu gom lại làm thành ao bằng bảy báu. Mành lưới, hàng cây bằng bốn chất báu tượng trưng cho Giới. Ao nước chứa Tám Công Đức là việc thực hành Bát Chánh Đạo, không phải là vàng, bạc, lưu ly, xích châu, mã não của trần gian, vì cõi Phật là vô Tướng, làm sao chứa chất những thứ hữu tướng?
Việc tu hành được thực hiện nơi Tâm. Kinh Duy Ma Cật viết: “Tất cả Chúng Sanh là Cõi Phật của Bồ Tát. Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật. Tùy chỗ điều phục chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật. Tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà lãnh lấy cõi Phật. Tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế? Vì Bồ Tát lãnh lấy Cõi Phật thanh tịnh đều vì muốn lợi ích chúng sanh”. Và: “Bồ Tát nếu muốn được Cõi phật thanh tịnh, nên làm cho Tâm thanh tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà Cõi Phật được thanh tịnh”. Cõi Phật được hình thành từ chỗ làm cho cái Tâm thanh tịnh. Đâu có chỗ nào nói nhờ vào Tụng Kinh, Bố Thí, Cúng Dường, Ngồi Thiền, hay làm nhiều việc thiện mà làm ra cõi Phật?. Cũng không phải diệt tất cả những ý tưởng mà cái Tâm trở thành thanh tịnh. Chỉ cần dẹp bỏ những xu hướng xấu, ác độc, tham lam, hại người mà thôi.
Nhiều người mơ màng Tây Phương Cực Lạc đã bỏ hết mọi tính toán làm ăn, chỉ nhất tâm Niệm Phật A Da Đà để cầu mong về đó. Họ không biết là Phật tả cõi đó trong Tâm. Chỉ cần làm cho cái Tâm thanh tịnh là Cõi Phật sẽ hình thảnh ngay tại lúc sống, không phải đó là cõi nước của Phật nào khác, chờ chết rồi Phật và Thánh Chúng nước đó sẽ tới rước. Đó là sự khác biệt giữa Chánh Pháp và Tà Pháp dù đều cùng hành chung những Pháp của Đạo Phật.
Phải chăng ngoài Đức Thích Ca, Đại Thừa lại có thêm, nhiều vị Phật, Bồ Tát để thờ? Nếu hiểu rõ về Đại Thừa, ta sẽ biết rằng Đại Thừa không bao giờ dạy người tu Thờ Phật, mà dạy họ tu để Thành Phật. Phật, Bồ Tát mà Đại Thừa đặt ra, không phải để thờ, mà nói về những công việc người tu làm nơi tự tâm của mình. Mỗi công việc được đặt cho một danh xưng. Thí dụ hành động lắng lòng để nghe tiếng nói của tư tưởng mình thì gọi đó là ta đang hành “Hạnh Quán Thế Âm Bồ Tát”. Khi trong tâm ta nảy lên một ý nghĩ xấu xa, lúc đó có ý tưởng nổi lên, giải thích, nhắc nhở để tư tưởng xấu được dẹp đi thì gọi là “Bồ Tát đang cứu độ Chúng Sinh”. Khi tư tưởng xấu không còn, trở lại tình trạng thanh tịnh, thì gọi là “Chúng Sinh đã được Giải Thoát hay là Thành Phật”. Chính vì vậy mà Tổ Đạt Ma dạy rằng “Chúng Sinh Độ Phật” cũng trong nghĩa đó. Vì có Chúng Sinh mới có Phật. Phật và Chúng Sinh chỉ là hai tình trạng: Phiền Não và Giải Thoát. Phiền não là Chúng Sinh. Hết phiền não thì được Giải Thoát gọi là Thành Phật. Không có phép màu hay Thần Linh gì ở đây hết. Cho nên những người hương khói, tụng niệm để Cầu An, Cầu Siêu đều là những người hiểu lầm Đạo Phật.
Dù mỗi danh xưng chuyên trách một việc trong Tâm, nhưng tất cả đều hướng về công việc giáo hóa, dẫn độ Chúng Sinh, để tất cả đều được an ổn, thanh tịnh, không còn phiền não, đau khổ, để cuối cùng được Giải Thoát hay Thành Phật. Do đó con đường tu để thành Phật gọi là Con Đường Độ Sinh, người tu nào không qua công việc này thì không thể Thành Phật được. Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Chúng người hãy chú tâm mà nghe cho rõ. Những người mê muội đời sau, nếu biết cái Tâm Chúng Sinh là Thấy Phật. Bằng chẳng biết cái tâm Chúng Sinh thì muôn kiếp tìm Phật ắt khó gặp. Nay ta dạy các người phải biết Chúng Sanh ở Tâm mình, thì thấy Phật Tánh ở tâm mình. Muốn cầu thấy Phật thì phải biết Cái Tâm Chúng Sinh”. Chúng sinh đó cũng ở trong Tâm mỗi người, không phải bên ngoài. Cho nên, người không lo tu cho bản thân, chỉ nhắm vào bá tánh bên ngoài mà khuyến tu thì e rằng không thể nào thành tựu được, mà cũng không có công đức gì với Phật, vì Phật không cần điều đó.
Tóm lại, Phật không phải là Thần Linh. Đức Thích Ca cũng chỉ là một người bình thường như mỗi chúng ta, nhờ tu hành, đoạn trừ Phiền Não mà được thành Phật. Việc Thành Phật chỉ là giải thoát cho bản thân hết Khổ, không thể phù hộ, độ trì cho ai. Chính bản thân Phật cũng đã nhập diệt, đã trà tỳ thì chúng ta không thể cầu Ngài ban bình an hay phù hộ cho chúng ta tai qua nạn khỏi, thăng quan tiến chức được. Bằng chứng là ngay những đợt thiên tai năm vừa qua trên chính quê hương của Phật, đã cướp đi hàng mấy ngàn sinh mạng, Phật cũng đâu có cứu được? Đạo Phật dạy Nhân Quả, Tự Độ, dạy mỗi người phải tự làm để đạt thành quả theo Luật Nhân Quả mà thôi, đừng trông mong, cầu xin rồi trách Phật không linh thiêng hay thiên vị, cho người này người kia mà không cho mình. Những người quảng bá rằng Phật quyền phép vô biên, khuyến khích mọi người xây Chùa cho lớn, tạc tượng Phật cho to rồi khói hương thành khẩn Cầu An, Cầu Siêu, Tụng Kinh để đưa Vong Linh người chết về Tây Phương Cực Lạc là những người hiểu sai về Phật cho nên những gì họ làm không phải là Chánh Pháp mà đã lạc sang Thần Quyền, mê tín.
Nhiều người mang tư tưởng trao đổi khi Bố Thí. Với người thân, với người nghèo thì họ so đo, tính toán từng xu. Nhưng với Chùa Chiền, Sư Tăng thì họ không tiếc, chỉ vì tin theo lời dạy trong Kinh: “Bố Thí, cúng dường cho Phật, cho người tu hành thì Phước Báo sẽ trả lại gấp trăm nghìn lần”. Thật ra đó chỉ là phương tiện Phật dùng vào thời buổi sơ khai, khi mới thành lập Tăng Đoàn. Lúc đó chưa có chữ viết. Tu sĩ cần tập trung để học thuộc lòng giáo pháp, mai sau phổ biến. Nếu để họ phải lo nghĩ về cái ăn, cái mặc thì họ không toàn tâm toàn ý để nghe và ghi nhớ lời Phật dạy, nên Phật phải kêu các tu sĩ dẹp hết chuyện bên ngoài, để các Cư Sĩ cung dưỡng cho. Nhưng cũng chỉ là thực phẩm đủ dùng trong ngày. Về sau này, Kinh sách tràn lan, tha hồ tham khảo, không cần phải bỏ hết mọi việc nữa, và tu Phật chỉ là Tu Tâm, không nhất thiết muốn tu hành thì phải ở trong Chùa, đầu tròn, áo vuông, giữ Tứ oai nghi nữa, vì đó chỉ là hình tướng bên ngoài, quan trọng là Điều Phục Chúng Sinh nơi nội TÂM. Đạo Phật không thể đóng khung trong Chùa, mà cần phổ cập cho mọi người, cho mọi tầng lớp thì để tất cả cùng được Giải Thoát mới đúng với ý Phật. Tu chỉ có nghĩa là Sửa. Người chịu sửa cái Tâm thì đó đã là tu sĩ. Cái đầu, chiếc Y, hoàn cảnh sống không nói lên được gì.
Kinh sách thì rất nhiều, mỗi người có thể tham khảo để tự phá mê cho mình. Phật dạy có 5 điều khó được: “Thân người khó được. Phật Pháp khó nghe. Chánh Pháp khó gặp. Người Trí khó gần. Khó sinh ra được nơi có Phật Pháp lưu hành”. Thời này ta may mắn có được hầu hết những thứ được cho là Khó đó mà không chịu tu hành thật rất là phí uổng. Hơn nữa, nếu chúng ta ý thức được “đời là bể khổ”, “cuộc sống là Vô Thường”, hẳn có giây phút nào lắng lòng để tìm con đường Giải Thoát. Còn nếu tiếp tục đam mê danh, sắc trần gian, hoặc dựa vào sắc tướng, vọng ra để trông mong vào sự cứu độ của Phật ngoài, thì rõ ràng đó là người người chưa nắm vững Giáo Pháp của Phật. Khi bản thân mình chưa hiểu rõ, chưa thực hành, chưa chứng nghiệm, mà còn mang đi giảng cho người khác thì đó là “chồng mê” cho người. Đạo Phật gọi là Đại Vọng Ngữ, chỉ những người không hiểu rõ Nhân Quả mới dám làm vậy.
Sưu tầm bài viết của tác giả Tâm Nguyện


Bình luận bài viết

Bài viết cùng chủ đề